Sự tuyệt vời từ công dụng Măng Tây mà bạn nên biết

Măng tây – Asparagus officinalis L., thuộc họ Thiên môn – Asparagaceae là loại cây thảo khá là quen thuộc đối với mỗi người dân Việt Nam. Không chỉ chế biến những món ăn ngon mà có thể dùng làm vị thuốc để chữa trị bệnh.

Mô tả:

Cây leo có thân mọc ngầm trong đất, thường gọi là thân rễ. Thân rễ  dày, mang nhiều rễ dài, đường kính 5-6mm, màu nâu sáng, xốp. Các thân đứng mọc trong không khí lởm chờm như những vết sẹo của những nhánh đã rụng. Các thân khi sinh nảy mang những vòng cành nhỏ biến đổi thành hình kim. Lá thật tiêu giảm. Hoa rất nhỏ, màu lục hình chuông, dài 6mm, tập hợp 4-6 cái, thành nhóm ở nách lá của các cành dạng lá. Quả hình cầu, dày, màu đỏ.

MĂNG TÂY

Sinh thái: Cây của miền nam Châu Âu, được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Ta cũng trồng chủ yếu để lấy chồi non làm rau ăn; mang là những chồi của thân rễ của cây. Khi nó vừa nó lê mặt đất thì người ta cắt đi vì khi đó nó còn mềm; khi nó lên cao nữa thì mạch gỗ xuất hiện làm cho măng cứng khó ăn. Ra hoa tháng 5-7, có quả tháng 9-11.

Phân bố:

Trồng nhiều ở Hà Nội, Lâm Đồng và một số tỉnh khác. Cũng gặp ở nhiều nước trên thế giới.

Bộ phận dùng: Rễ – thường gọi là tiểu bách bộ.

Có thể thu hái mang và rễ quanh năm

Thành phần hóa học:

Các thành phần đã biết là nước 90-95%, glucid 1.7-2.5%, lipid 1.1-0.15%, protid 1.6-1.9, cellulose 0.55-0.7%, các vitamin A, B1, B2, C, khoảng 10% chất khoáng có mangan, sắt, photpho, kali, calcium, fluor, brome, iod…, một ít tanin, một saponosid mà genin là sarsapofenin; các chuỗi non chứa asparagin, coniferin, một ít rutosid (có nhiều hơn ở các phần xanh), các vết anthocyanosid và một chất  có lưu huỳnh có thể là dẫn xuất methylsulfo-nium của methionin. Do vậy trong nước tiểu người ăn măng tây có chứa methylmercapten (methanethiol) có mùi khó chịu. Trong rễ có sarsapofenin, coniferin, acid chelidnic, mannit, asparagin, muối kali.

Tính vị, tác dụng:

Rễ cây có vị đắng, hơi cay, tính hơi ấm, có tác dụng nhuận phế trấn khái, khư đàm, sát trùng. Măng có tác dụng làm dịu sự kích thích, lợi tiểu, nhuận tràng, trợ tim, làm dịu, bổ và kích dục, còn cung cấp các chất khoáng cho cơ thể, làm giảm lượng glucose niệu. Rễ lợi hơn măng, làm giảm lượng muối, giúp ăn ngon và làm dịu tim. Asparagin rất cần cho sự xây dựng, sự phân chia các tế bào và sự phục hồi cơ thể.

Công dụng:

Măng thường dùng để ăn, có mùi dễ chịu, dùng rất tốt cho người suy niệu, thiếu ngủ, thiếu chất  khoáng, yếu gan và thận sỏi niệu, thấp khớp, thống phong, viêm phế quản mạn tính, đái đường, đánh trống ngực.

Rễ được dùng cho các trường hợp giảm niệu của bệnh nhân tim, các bệnh về thận, thủy thũng, vàng da.

Ở Trung Quốc, Măng tây được dùng trị phổi nóng sinh ho và sát trùng; được dùng ngoài trị bệnh ngoài da, ghẻ, nấm và ký sinh trùng.

Ghi chú:

Dùng măng tây ăn như rau hoặc dùng dịch chiết. Người bị viêm bàng quang, viem khớp cấp tính không nên dùng. Rễ dùng dưới dạng sắc, cao lỏng hay xiro. Không dùng cho người bị viêm đường tiết niệu cũng như người bị bệnh thần kinh.

Các bạn có thể tìm hiểu thêm:

Điều tuyệt vời từ cây thuốc Mạy châu

Chữa trị Cảm mạo từ Mắc cá xanh

Máu chó lưu linh và những điều bạn chưa biết

 

Trả lời

Hotline: 0383 838 663
Chat Facebook
Gọi điện ngay